Chương 1

PARKOURION. CỨU TÔI.

Chương 1.

Tôi không biết tên thật của mình là gì. Tôi không biết cha mẹ tôi là ai hay tôi từ đâu đến. Tôi không biết mình bao nhiêu tuổi.

Cột mốc thời gian bắt đầu từ cái ngày tôi bước ra khỏi khu rừng. Khi ấy, tôi không biết nói, không hiểu mình là ai, đang ở đâu, từ đâu tới và phải đi về đâu. Ký ức đầu tiên của tôi là đây – tôi đứng bên vệ đường, sau lưng là rừng, trước mặt là một ngôi làng. Tôi dẫm chân trần trên nền đất lạnh, trên người chỉ có chiếc quần cộc rách tả tơi, dính đầy những hạt ngưu bàng. Lúc ấy tôi mười tuổi. Có thể hơn một chút, có thể ít hơn, nhưng tạm thời, về sau này tôi coi ngày hôm đó là sinh nhật thứ mười của mình.

Chuyện đó đã hơn một trăm năm mươi năm về trước.

Gần khu rừng, tôi được một người phụ nữ tên là Slava cưu mang. Bà là một góa phụ không con ở tuổi ba mươi lăm, căn nhà của bà nằm ở rìa làng, sát cánh rừng. Hồi ấy, với tôi, bà như một người bà. Và suốt cuộc đời, bà vẫn mãi là "bà Slava" của tôi.

Tôi nhớ bà dắt tôi về căn nhà nhỏ của mình, tắm rửa cho tôi, cho tôi ăn, và may cho tôi bộ quần áo đơn giản để tôi khỏi bị lạnh.

Rồi bà dẫn tôi đến gặp trưởng làng. Ông ta gãi mái đầu bạc, làm bộ trầm ngâm suy nghĩ xem nên xử trí với tôi thế nào. Chờ một lúc cho có lệ, Slava liền đề nghị để tôi ở lại nhà bà cho đến khi mọi việc được giải quyết. Trưởng làng mừng rỡ vì khỏi phải quyết định gì, liền đồng ý ngay. Thế là tôi tìm được một người thân và một mái nhà.

Bà Slava tin rằng tôi là do Chúa gửi đến cho bà, nên bà đặt tên tôi là Bohdan. Bà nuôi tôi khôn lớn, lo cho tôi ăn mặc, dạy tôi đọc, dạy tôi viết, vì bản thân bà cũng biết chữ. Còn tôi, tôi giúp bà bất cứ việc gì có thể. Không hiểu sao tôi lại có những kiến thức ấy, nhưng tôi biết cách dựng nhà, biết xây lò sưởi, biết mùa nào ra đồng làm cỏ khô, và biết cách mài lưỡi hái. Bà Slava đã sống một mình suốt mười năm trời, chỉ chung sống với chồng được ba năm trước khi ông mất vì bệnh. Cả cơ ngơi sa sút dần. Những việc tay đàn bà làm được thì vẫn còn tạm ổn, nhưng những việc cần đến bàn tay đàn ông thì đều hỏng hóc, xuống cấp. Cho đến khi tôi xuất hiện.

Năm tôi mười hai tuổi, tức là chỉ hai năm sau ngày tôi đến, tôi đã làm việc từ sáng đến tối. Bà Slava thì chỉ bảo cho tôi đôi điều. Phần còn lại, tôi tự mày mò. Việc thì không thiếu. Cơ ngơi dần được phục hồi. Căn nhà trở nên sáng sủa với những mảng tường trắng, trong nhà có thêm bàn gỗ mới, giường, ghế và kệ. Các công trình phụ trợ cũng được sửa sang, và trong chuồng bắt đầu có một vài con gia súc.

Căn nhà nhỏ tọa lạc không xa dòng sông, thế nên trên bàn ăn của chúng tôi lúc nào cũng có cá, có thịt, và đủ thứ đồ nhắm.

Đó là những ngày tháng thật đẹp. Có lẽ chúng đẹp trong tôi bởi đó là những ngày tháng của tuổi thơ, mà phần lớn ký ức tôi chẳng còn nhớ? Tôi nhớ in những lần cùng Slava ra sông. Nhớ tiếng cười của bà, trong trẻo như một cô gái, mỗi khi chúng tôi nô đùa dưới nước. Nhớ hình ảnh bà ngồi bên bàn, tay chống cằm, mỉm cười lắng nghe tôi say sưa kể về những cảm xúc trẻ thơ của mình. Bây giờ tôi mới hiểu – khi ấy bà vẫn còn rất trẻ, chỉ có tôi mới gọi bà là "bà".

Năm tôi mười lăm tuổi, cơn động kinh đầu tiên xảy ra. Tôi đang ngủ, bỗng nhiên bật dậy khỏi giường giữa đêm và la lên: "Chúng nó đang cháy".

Slava vỗ về tôi, đặt tôi nằm lại giường và ngồi suốt đêm bên cạnh tôi dưới sàn nhà, tay nắm chặt tay tôi và xoa đầu tôi, vì tôi cứ giật mình tỉnh giấc và liên tục nói: "Chúng nó sẽ cháy hết, chúng nó sẽ cháy hết". Bà hỏi lại tôi: "Ai sẽ cháy?", nhưng tôi đâu có biết. Bà dỗ dành tôi cho đến khi tôi chìm vào giấc ngủ mê mệt.

Và sáng hôm sau, hóa ra có một căn nhà ở đầu bên kia của làng đã bốc cháy. Cả gia đình, người chồng, người vợ và bốn đứa trẻ, đều thiệt mạng.

Tôi ngã bệnh. Cả tuần liền tôi không thể nhấc nổi chân. Hễ cố gắng ngồi dậy, mọi thứ lại quay cuồng trước mắt, dạ dày tống hết thức ăn còn sót lại ra ngoài. Khi chẳng còn gì để tống, thì đến mật xanh mật vàng cũng trào ra. Tôi gầy rộc đi, xương cốt như sắp đâm thủng da.

Bà Slava sáng tối đều cầu nguyện cho tôi. Còn đêm đến, bà lại khóc thầm trên giường, tưởng tôi không nghe thấy. Bà cũng tiều tụy đi trong khoảng thời gian ấy, vì chỉ cần tôi động đậy trên giường là bà đã thức giấc.

Chín ngày sau, dạ dày tôi mới giữ được một ít nước luộc gà nóng.

Ngày thứ mười, tôi rời khỏi giường và bước được vài vòng quanh nó. Ngày thứ mười lăm, tôi đi ra đám đổ nát cháy đen ở cuối làng. Tôi đứng nhìn hồi lâu những gì còn sót lại của căn nhà sau trận hỏa hoạn. Và chẳng còn gì ngoài một khoảnh đất cháy xém và vài cái xà nhà đen thui. Có điều gì đó trong tôi đang chuyển động. Đang muốn vỡ òa ra ngoài. Trong đầu tôi hiện lên khung cảnh của trận hỏa hoạn, y hệt như tôi đã thấy trong cơn mê sảng đêm ấy. Và tôi biết đó không phải là trí tưởng tượng đùa giỡn với tôi, mà nó đã thực sự xảy ra. Tôi thèm được thở. Về đến nhà, tôi cầm lấy cái rìu và đi vào rừng, vì đã đến lúc phải chuẩn bị củi.

Khi ấy, trong rừng, tôi nhận ra một điều kỳ lạ. Ở trong nhà, tôi đã có cảm giác mình nhìn và nghe rõ hơn, nhưng đến khu rừng, tôi mới cảm nhận được điều đó một cách trọn vẹn. Từng chiếc cành cây, từng ngọn cỏ đều hút lấy ánh nhìn của tôi. Tôi đảo mắt nhanh đến nỗi trước mắt cứ như lấp lánh. Tôi nhắm mắt lại, trấn tĩnh bản thân. Mở mắt ra lần nữa – tôi thả lỏng ánh nhìn, không nhìn vào một thứ cụ thể nào, mà như thể nhìn vào tất cả cùng lúc… Và tôi đã thấy TẤT CẢ CÙNG MỘT LÚC. Tất cả những gì quanh tôi: bầu trời giữa những khoảng trống trên cành cây, chính những cành cây ấy, cây cỏ, những con chim trên cành, một con thỏ đang núp sau bụi cây. Tôi nghe thấy nó. Tôi nghe thấy hơi thở của nó và tiếng trái tim nó đập. Tôi thả lỏng thính giác… và nghe thấy TẤT CẢ quanh mình.

Trái tim tôi đập loạn xạ trong lồng ngực, nhanh hơn cả trái tim chú thỏ sau bụi cây. Tôi không thể thở nổi. Cơ thể nóng bừng lên.

Tôi cởi giày, đặt chân trần xuống đất và cởi trần đến tận thắt lưng. Tôi cảm nhận được cơn gió. Tôi cảm nhận được nhựa sống cuộn chảy dưới lòng đất giữa những bộ rễ cây. Tôi biết chính xác đâu là hướng đông, đâu là hướng tây, dù chẳng cần nhìn mặt trời. Tôi có thể xác định khoảng cách đến con lợn rừng cái đang lục lọi cùng bầy con của nó ở cách tôi ba trăm bước bằng ngón tay. Tôi biết rằng nếu tôi muốn, tôi có thể lén lút đến gần nó và nắm lấy đuôi nó, và cả nó lẫn lũ lợn con sẽ chẳng nghe thấy gì.

Có thứ gì đó như xé toang tôi từ bên trong. Tôi cảm thấy cơ thể vật lý của mình quá nhỏ bé so với chính tôi. Tôi dang rộng hai chân, giang hai tay ra hai bên và hét lên tất cả những gì mình có. Tôi gào thét cho đến khi kiệt sức, khuỵu gối xuống…

Hôm ấy tôi trở về nhà mà chẳng có củi. Lê lết đến căn nhà nhỏ – chân trần, trần trụi tới thắt lưng. Tôi kể hết cho bà Slava nghe. Bà ôm chặt tôi, kéo tôi vào lòng và thì thầm: "Bà luôn biết con là một đứa trẻ đặc biệt, con trai của bà ạ. Con là do Chúa ban cho. Con có một sứ mệnh trên trái đất này. Và bà hạnh phúc vì đã được chọn để hiến dâng cuộc đời mình cho con"…

Lần thứ hai, tôi "lên cơn" vào khoảng đầu mùa đông. Tuyết chưa rơi, nhưng sương giá đã đóng băng mặt nước trên các hồ, và một phần trên các con sông.

Cũng như lần trước, tôi thức giấc vào ban đêm, nhưng lần này không có tiếng la hét. Giờ đây tôi không chỉ biết điều gì sắp xảy ra, mà còn biết phải làm gì. Tôi nhanh chóng đứng dậy, chụp cuộn dây thừng ở ngoài hiên, và cứ như vậy, chỉ mặc quần lót, chân trần, chạy vụt đến chỗ vực nước, nơi hai chàng trai trẻ Mykytas và Orkhai đã chui qua lớp băng trên đường say rượu từ làng bên về, định băng tắt qua vực nước vì nghĩ rằng nó đã đóng băng đủ dày. Trên bờ, tôi nhanh chóng buộc một đầu dây vào gốc cây, quấn đoạn giữa quanh thắt lưng, đầu kia thì để tự do. Tôi nằm bẹp xuống lớp băng, ném đầu dây tự do cho Mykytas, người đang bám vào mép băng. Khi cậu ta đã trèo lên được, tôi phải lặn xuống tìm Orkhai. Cậu ta đã bất tỉnh và trôi dưới lớp băng theo dòng nước, nhưng tôi biết chính xác cậu ta ở đâu và phải lặn xuống chỗ nào để chặn dòng chảy ngầm. Dưới lớp băng, tôi nắm được tay cậu ta, buộc đầu dây thừng quanh người cậu ấy, rồi cũng leo lên nhờ sợi dây ấy và kéo cậu ta theo. Tôi bảo Mykytas chạy đi gọi người giúp (vừa có ích, vừa để cậu ta sưởi ấm), còn tôi thì bắt đầu làm Orkhai tỉnh lại. Khi mọi người chạy đến, cậu ta đã thở được rồi. Còn tôi, tôi đứng trên cậu ta, mình trần, ướt sũng, nhưng hoàn toàn không thấy lạnh. Chẳng thấy gì cả, chỉ có sự bình yên đến từ việc mình đã làm được điều cần làm.

Dân làng bắt đầu kính trọng tôi. Nhà chúng tôi bắt đầu có khách. Các bà các cô mang đủ thứ quà bánh. Đàn ông đến đề nghị giúp đỡ việc đồng áng.

Sau đó, vài lần nữa tôi cứu người, dân làng bắt đầu cư xử thận trọng hơn. Họ vẫn nói chuyện tử tế, nhưng chẳng mấy ai còn mặn mà ghé qua sân nhà chúng tôi nữa.

Một năm sau, vào mùa đông, tôi đuổi lũ sói tấn công ông Zynoviy và con ngựa cái của ông đang kéo xe chở củi từ rừng về. Tôi đến kịp lúc, chộp được con sói đầu đàn đang lao tới tấn công và hạ nó ngay bằng một nhát rìu. Tôi không biết nhìn từ bên ngoài thì nó ra sao, bởi mỗi khi đi cứu ai đó, tôi chẳng nghĩ gì, càng không nghĩ đến việc nó trông như thế nào, nhưng hẳn nó cũng có cái gì đó ghê gớm, khi một thằng thanh niên gần như cởi trần bay vút qua tuyết vào khu rừng với hai cái rìu, mỗi tay một cái, và bắt đầu vung rìu bổ vào lũ sói. Ít ra thì ông Zynoviy, một tay kể chuyện cự phách, sau đó đã mô tả lại sự việc ấy trong những câu chuyện của mình hết sức chi tiết và, dĩ nhiên, ông cũng thêm thắt cho nó thêm phần ly kỳ… Sau chuyện ấy, dân làng bắt đầu xa lánh tôi. Những lời đồn thổi ác ý bắt đầu lan ra, cả về tôi lẫn Slava. Họ tưởng tượng ra đủ thứ chuyện mờ ám. Họ nhắc đến chuyện chồng bà chết trẻ một cách bất thường…

Tôi thì mặc kệ. Tôi chẳng bận tâm. Nhưng Slava thì bị tổn thương bởi thái độ của dân làng đối với tôi, chứ không phải đối với bà. Bà đã quen với những lời đàm tiếu. Phận góa bụa là vậy, muốn hay không, người ta cũng sẽ thêu dệt đủ điều, còn nếu chẳng có gì để dệt, họ sẽ tự nghĩ ra…

Rồi chiến tranh ập đến. Cuộc chiến đầu tiên.

Ông trưởng làng, người đã tránh né sân nhà chúng tôi suốt thời gian qua, bỗng xuất hiện và bảo tôi chuẩn bị lên đường vào ngày mai. Tôi bị gọi nhập ngũ. Bà Slava khóc nức nở khi thu dọn hành lý cho tôi. Bà cứ muốn nhét thật nhiều thứ vào cái túi vải, còn tôi thì phải dỗ dành bà, bỏ bớt những thứ bà đã nhồi nhét ra khỏi túi, và nhắc bà nhớ lại chính lời bà đã nói về sứ mệnh của tôi trên trái đất này…

Trong chiến tranh, tôi đã cứu rất nhiều người, chưa bao giờ thèm đếm xem bao nhiêu. Ở đó, tôi chỉ kịp làm mỗi một việc là cứu ai đó, dân thường hay lính tráng cũng vậy. Sáu năm sau, tôi trở về, người chi chít vết đạn và mảnh bom, nhưng tất cả đều chỉ là vết xước, chẳng có gì nghiêm trọng.

Trong làng có chính quyền mới, luật lệ mới. Một nửa số gia súc của chúng tôi bị lấy đi. Bà Slava bị ép phải đi làm công ích. Sau đó, chúng còn bắt cả tôi. Ban ngày tôi làm việc chẳng biết vì cái gì và cho ai. Tối đến, tôi chăm sóc phần gia súc còn sót lại. Ngoài chiến trận, tôi quen ngủ rất ít – ba bốn tiếng một ngày. Vì thế, ban đêm tôi đọc sách. Trong chiến tranh, người ta trộn lẫn vào nhau như một mẻ cháo, tôi từng nói chuyện đủ hạng người. Chính họ đã mở mắt cho tôi rằng tri thức có thể kiếm được từ sách vở, chứ không chỉ từ kinh nghiệm.

Bà Slava kiệt sức lắm rồi, chẳng còn sức đâu mà làm việc nhà, chỉ lo được bữa ăn. Bà cố gắng đi ngủ thật sớm… Nhưng đêm đến, bà vẫn khóc thầm trên giường, tưởng tôi không nghe thấy.

Rồi lại có chiến tranh. Cuộc chiến thứ hai. Tôi lại bị bắt đi. Cái giấy tờ tôi được cấp trong lần đầu tiên, tôi đã làm mất (thú thật là tôi cố tình). Bề ngoài, tôi hầu như chẳng thay đổi, nên họ làm cho tôi một cuốn sổ quân dịch mới và ghi rằng tôi mười chín tuổi. Trong khi thực ra, tôi đã năm mươi tư. Nếu tính từ cái ngày tôi bước ra khỏi khu rừng không ký ức năm mười tuổi.

Bốn năm sau tôi trở về. Người lại chi chít mảnh bom, nhưng chẳng có gì nghiêm trọng. Chỉ thêm vài vết thương xước ngoài da.

Bà Slava mất lúc chín mươi tư tuổi. Cho đến hơi thở cuối cùng, bà vẫn đứng vững, chỉ thỉnh thoảng chống gậy. Bà ra đi nhẹ nhàng, với lời cuối dành cho tôi: "Cảm ơn Chúa vì đã cho mẹ có con, con trai yêu quý. Hãy tha thứ cho mẹ vì đã để con lại một mình, nhưng mẹ không còn đủ sức nữa rồi." Và bà đã ra đi… Tôi hy vọng là đến một thế giới tốt đẹp hơn.

Tôi sống một mình. Tôi không thể lấy vợ, vì ngoại hình tôi thay đổi rất chậm. Bây giờ tôi đã một trăm năm mươi, mà trông chỉ như bốn mươi. Nếu cạo râu và làm lại đầu tóc, thì còn trẻ thêm năm tuổi nữa.

Thỉnh thoảng, tôi vẫn cứu ai đó, nếu có người gặp nạn ở gần. Như mọi khi, tôi thức dậy giữa đêm, hoặc cảm nhận được điều gì đó vào ban ngày, và lập tức biết mình cần phải đi đâu, làm gì. Nhưng tôi cố gắng làm việc đó càng ít càng tốt, càng kín đáo càng hay. Cuộc đời đã dạy tôi rằng lòng biết ơn cũng có muôn hình vạn trạng.

Thỉnh thoảng, tôi lại phải đổi chỗ ở. Thỉnh thoảng, lại phải thay giấy tờ. Bạn bè tôi có; ngoài chiến trận, tôi từng cứu rất nhiều người. Trong số họ đủ loại người. Vậy nên tôi luôn có người để nhờ vả, làm cho tôi những giấy tờ giả chất lượng đến mức không một cuộc giám định nào bắt bẻ được. Tôi đã sống ở cả những thành phố lớn lẫn những khu định cư nhỏ. Tôi đã từng giàu có và từng là kẻ ăn mày. Tôi từng được biết đến trong thế giới tội phạm lẫn giới thượng lưu chính trị. Nhưng tôi luôn bị kéo về nhà. Căn nhà nhỏ xiêu vẹo ấy, như tôi đã thấy khi bước ra khỏi khu rừng, vẫn là nơi thân thương nhất với tôi.

Rồi lại có chiến tranh. Cuộc chiến thứ ba. Một cuộc chiến nhấn chìm cả thế giới. Nó diễn ra rất nhanh. Nếu không kịp thời dừng lại, thì chẳng còn ai sống sót trên đời này nữa.

Người ta nói rằng một quả đạn không bao giờ rơi trúng cùng một hố bom hai lần? Chuyện nhảm nhí. Nó vẫn rơi trúng đấy.

Một sai sót của người điều khiển. Hai quả bom hạt nhân và neutron phát nổ ở cùng một chỗ, cách nhau năm phút. Cả thế giới tham chiến, nhưng đất nước chúng tôi lại hứng chịu. Chính sau những vụ nổ này, thế giới mới chịu tỉnh ngộ, các vĩ nhân bắt đầu tìm kiếm những thỏa hiệp chính trị.

Sau cuộc chiến thứ ba, tôi trở về căn nhà thân yêu. Nó nằm trong khu vực cấm, được lập ra xung quanh những vụ nổ hạt nhân.

Cuối cùng, tôi không còn phải hết lần này đến lần khác nhổ trại và chạy đi đâu đó. Tôi tìm thấy sự bình yên đã mong đợi từ lâu. Tôi nghỉ ngơi khoảng hai mươi năm.

Tôi cảm nhận được phóng xạ, như tôi từng cảm nhận nhựa cây và gió trong khu rừng ngày ấy, nhưng nó chẳng làm phiền tôi.

Dần dần, tôi xây lại căn nhà từ nền móng. Từ đầu đến cuối. Giờ đây, trên nền đất cũ là một căn nhà hai tầng. Xung quanh tôi, hàng chục cây số không một bóng người. Tôi không trốn tránh ai và cũng chẳng cứu ai. Thỉnh thoảng, tôi mới bước ra thế giới bên ngoài nếu cần kiếm thứ gì đó. Nhưng ở đây có quá nhiều thứ bị bỏ lại, nên tôi hầu như chẳng có nhu cầu ra ngoài. Ban đầu, tôi trốn lính và bọn hiến binh, những kẻ cưỡng bức di dời cư dân trong Vùng. Rồi sau đó, thái độ với chuyện này trở nên dễ dãi hơn, và tôi kết bạn với những người lính phòng vệ dân sự đang canh gác Vùng ở vòng ngoài. Thỉnh thoảng tôi ra gặp họ, nhờ họ mang từ các khu dân cư về cho tôi thứ này thứ kia; thỉnh thoảng tôi lại mang ra cho họ vài món đồ kỳ thú. Mấy người lính đề nghị đến thăm tôi, nhưng tôi từ chối, thực ra là không muốn để lộ vị trí của mình.

Rồi tôi có một người bạn. Tôi thuần hóa được một con chó, đặt tên là Sói. Từ hồi nó còn nhỏ, tôi hay đùa gọi nó là "con của sói", thế là cái tên cứ thế dính luôn. Mọi chuyện đã tốt đẹp. Nhưng rồi tôi lại mất đi sự bình yên. Bọn Stalker. Chúng cứ lên, cứ lên. Đọc đủ thứ sách vở… Lại đến lượt tôi phải đi cứu… Rồi du khách cũng xuất hiện, nhưng lộ trình của họ đi xa khỏi căn nhà của tôi và chẳng kéo dài lâu, chỉ vài năm, vì Vùng bắt đầu thay đổi…

Nếu bạn nghĩ rằng bạn biết điều gì đó về Vùng – bạn đã nhầm. Nếu bạn nghĩ rằng tôi biết điều gì đó về Vùng – bạn cũng nhầm nốt. Tôi biết hệ thực vật và động vật ở đây. Tôi biết cách sinh tồn. Biết con nào có thể săn, con nào không. Biết chỗ nào uống nước được, chỗ nào không nên… Tôi biết tất cả mọi con đường và lối mòn ở đây… Nhưng tôi không biết Vùng. Tôi không biết NÓ là gì, hay NÓ là ai. Vùng sống cuộc đời của chính nó.

Trong một trăm năm mươi năm cuộc đời, tôi đã đọc vô số sách. Nhiều kiến thức đến với tôi từ tự nhiên, nhiều kiến thức đến từ trải nghiệm. Nhưng không một kiến thức nào có thể trả lời câu hỏi – Vùng là gì và nó sống theo những quy luật nào? Lúc đầu, mọi thứ thật dễ hiểu. Chiến tranh hạt nhân, những vụ nổ, thảm họa quy mô hành tinh, khu vực cấm, những vùng đất nhiễm phóng xạ. Sự đột biến của động thực vật, thường là chúng chết và không sinh sản ra thế hệ đột biến tiếp theo. Nhưng rồi… Vào một thời điểm nào đó, khu vực cấm đã trở thành Vùng.

Ví dụ, "những kẻ lấp lánh" – đó là gì? Hay là, đó là ai?

Những dạng hình người lấp lánh đủ màu sắc cầu vồng này từ đâu xuất hiện? Chúng có vật chất hay không? Ví dụ, tôi chưa bao giờ thử sờ vào chúng, điên mới thử! Ở đây người ta không đùa với mấy thứ thế này. Nhìn thì có vẻ chúng trong suốt. Nhưng chúng vẫn va vào cây và phải đi vòng. Nếu nhìn kỹ vào cái "đầu" của chúng, hình như có thể thấy một khuôn mặt mờ ảo nào đó. Và tôi có cảm giác rằng nét mặt của những khuôn mặt đó vô cùng ngạc nhiên. Chúng loanh quanh một lúc, đập vào cây, để lại những cục u cầu vồng trên cái đầu ngạc nhiên của mình, rồi biến mất không biết về đâu, và bằng cách nào.

Hay những cánh cổng, đó là gì? Tôi tự gọi chúng là cổng – thực ra chúng là gì, tôi không hề hiểu. Trên một mặt đất bằng phẳng, không khí bắt đầu dao động, như trên mặt đất nóng bỏng vào giữa trưa mùa hè. Một đám mây không khí hình trứng, cao gấp đôi người, hình thành. Một con thú nào đó chạy ngang, chui vào vùng dao động đó và biến mất. Đi đâu? Ai mà biết được.

Vài tuần trước, tôi thấy một con bò rừng đang cháy. Một gã khổng lồ đơn sắc đang bình thản gặm cỏ và chẳng thèm để ý đến việc cả người mình đang bốc lửa. Tuy nhiên, lông trên người nó không bị cháy xém, và cũng chẳng có mùi gì quanh nó.

Vùng sống cuộc đời của chính nó. Nó có những quy luật riêng và một quá trình tiến hóa kỳ lạ. Nó không giống như trong "Buổi dã ngoại bên lề đường" của anh em nhà Strugatsky. Ở đó, Vùng xuất hiện đột ngột, đầy những thứ kỳ quặc. Vùng của chúng ta lại xuất hiện vì những lý do có thể hiểu được, nhưng lại chọn một con đường phát triển không thể hiểu nổi.

Trong cái Vùng ấy, tôi đã sống hàng chục năm qua.

Kỳ lạ thật, phải không? Một người đàn ông không biết mình là ai, từ đâu đến, và tại sao lại sống đến một trăm năm mươi năm, lại chọn nương thân ở một nơi xảy ra những sự kiện mà không ai có thể giải thích.

Nhưng biết làm sao bây giờ? Tôi đã quá già để sống trong thế giới loài người rồi…